Tìm theo sản phẩm loài
Nếu gặp khó khăn trong quá trình thao tác, xin xem Video hướng dẫn hoặc liên hệ với chúng tôi :
Hotline: +8424.35149750     
Địa chỉ: Phòng 106, nhà D, số 3 Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
Sọ
Xương và sọ của nhiều loài bị buôn bán để làm vật trang trí nhưng phổ biến hơn cả là để sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền; chủ yếu là để chế xuất cao xương, một chất sánh sệt giống mật đường được nấu từ xương hoặc cả xương và thịt trong nhiều ngày. Rất khó để nhận biết các mẩu xương hoặc cao xương chính xác là của loài nào, tuy nhiên, nếu có sọ của loài đó thì có thể dựa vào một số đặc điểm chúng tôi sẽ trình bày dưới đây để nhận dạng một số nhóm loài phổ biến.

Chúng tôi cố gắng không sử dụng các thuật ngữ chỉ nhóm loài chính xác khi miêu tả sọ của từng loài, thay vào đó, chúng tôi đưa ra các đặc điểm chung về sọ để dễ hiểu.
Sọ linh trưởng có thể phân biệt với các loài khác bằng cách quan sát mặt trước và khung xương phát triển đầy đủ ở phía ngoài gờ hốc mắt.

Họ Culi

Sọ culi tròn với hốc mắt lớn, không bao kín đằng sau. Có một gờ (xương trán không liền) chạy giữa hai mắt tới mũi, đặc điểm này phân biệt culi với các linh trưởng khác. Chúng có mõm ngắn và nhọn.



Họ Vọoc

Đặc điểm điển hình của voọc đó là có quai hàm sâu; hai hốc mắt tương đối xa nhau và bao kín phía sau. Đặc điêm đặc trưng về hàm răng của voọc là răng hàm với các múi răng nhô cao, có các gờ nổi giữa hai múi răng và có răng cửa nhỏ



Họ Khỉ

Sọ khỉ có mõm dài, mũi hẹp và khoảng cách giữa hai hốc mắt nhỏ hơn so với các loài linh trưởng khác ở Việt nam. Hốc mắt bao kín phía sau. Cá thể đực có thể có gờ xương chạy dọc theo trung tuyến của đỉnh sọ. Đặc điểm quan trọng phân biệt sọ khỉ là có răng hàm bilophodont.



Họ Vượn

Vượn có thể phân biệt với các loài linh trưởng khác ở Việt Nam qua bộ răng. Chúng có răng hàm đơn giản với 4-5 múi trên bề mặt nhai nhưng không có các đường vắt ngang các múi như ở Vooc và khỉ. Vượn cũng có mũi và vòm miệng rộng hơn và não lớn hơn các loài linh trưởng khác (không phải là khỉ). Hốc mắt vượn được bao kín phía sau.


Họ Mèo

Sọ loài mèo lớn, tròn với mũi ngắn và hốc mắt lớn. Chúng có mào chẩm ngoài cứng (mào ở sau hộp sọ) và gờ xương chạy dọc theo đường trung tuyến của đỉnh sọ (mào dọc); mào dọc đặc biệt phát triển ở các loài mèo lớn. Vòm miệng có chiều dài và chiều rộng tương đương với bộ răng rất đặc trưng. Răng nanh rất dài với những rãnh khía rõ ràng theo chiều dài của răng. Răng tiền hàm sau phát triển thành răng nhai thịt thích nghi với việc cắn xé.



Họ chó

Sọ của các loài chó dài và có mõm nhọn. Chúng có răng nanh lớn và nhọn, thường có 3 răng cửa trên và dưới. Giữa răng cửa và răng nanh trên có một khe hở dành chỗ cho răng nanh dưới khi hàm đóng lại. Chúng cũng phát triển một cặp răng nhai thịt, nhưng không phát triển như của họ mèo.



Họ gấu

Sọ của họ gấu tương tự như sọ của họ chó, nhưng sọ gấu lớn hơn, có ổ mắt tương đối nhỏ và răng hàm lớn hơn. Sọ gấu khá dài, đặc biệt so với kích cỡ của hộp sọ thì mõm của chúng dài hơn so với mõm của họ mèo. Chúng có răng nanh dài, hơi cong, có các vòng ở đỉnh răng, và không có rãnh khía dọc. Răng nhai thịt phẳng và ba chiếc răng tiền hàm đầu tiên nhỏ và khá yếu.



Họ chồn

Sọ của hầu hết các loài chồn dài, rộng và phẳng. Mặt dài hơn mặt họ mèo và mõm thì hẹp hơn, thuôn và luôn ngắn hơn mõm chó. Mũi rất nhọn.


Next Prev