Tìm theo sản phẩm loài
Nếu gặp khó khăn trong quá trình thao tác, xin xem Video hướng dẫn hoặc liên hệ với chúng tôi :
Hotline: +8424.35149750     
Địa chỉ: Phòng 106, nhà D, số 3 Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
Ngà voi
Khái niệm “ngà” được sử dụng để chỉ răng nanh hoặc ngà của các loài thú lớn vì chúng đều có cùng cấu tạo hóa học. Ngà của các loài động vật bị buôn bán thương mại dưới nhiều hình thức: nguyên chiếc, một phần, chế tác hoặc đồ trang trí.



Ngà voi nguyên chiếc là sản phẩm có nhu cầu lớn thứ hai sau ngà trong buôn bán Ngà. Việc buôn bán ngà voi trong và ngoài nước đều là bất hợp pháp bất kể là ngà của loài voi nào hoặc là ở quốc gia nào. Nạn buôn bán ngà voi là nguyên nhân chính làm giảm số lượng loài voi tại châu Á.

Mặc dù ngà voi châu Á bị buôn bán phổ biến nhất ở Việt nam, nhưng ngà voi Châu Phi vẫn được nhập khẩu vào Việt Nam. Phân biệt ngà của các loài bằng phương pháp phân tích gen hoặc phân tích đồng vị sử dụng phương pháp ghi phổ khối lượng lớn sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động buôn bán nhưng trong thực thi pháp luật, việc nhận dạng được ngà voi là đủ căn cứ để để thu giữ hoặc khởi tố.

Quy định về buôn bán các sản phẩm thay thế ngà voi ít nghiêm ngặt hơn (ví dụ: ngà voi ma mút (Mammuthus primigenius) và răng nanh lợn rừng lai Âu -Á được pháp luật Việt Nam cho phép buôn bán nếu có giấy phép) do vậy cần phải có những kỹ thuật chính xác và đáng tin cậy để phân biệt ngà voi và răng nanh của các loài khác.
  • Xương voi, xương bò và xương trâu
  • Gạc của các loài móng guốc
  • Sản phẩm làm từ chất vô cơ (như nhựa, đá)
  • Ngà voi ma mút
  • Răng nanh Hà Mã (Hippopotamus amphibius)
  • Răng nanh lợn rừng (Sus scrofa)
1. Kiểm tra sản phẩm dưới ánh sáng tia cực tím bước sóng dài và quan sát màu sắc sản phẩm. Nếu mẫu vật có:

  • Màu xanh tối:  là sản phẩm chế tác
  • Màu xanh/trắng nhạt: là ngà voi thật hoặc xương
  • Màu xanh/trắng nhạt với các vết màu tím: là ngà voi ma mút

2. Kiểm tra sản phẩm bằng kinh lúp độ phóng 10x. Nếu quan sát thấy:

  • Ống nuôi xương: là xương
  • Góc Scherger: là của loài thú thuộc bộ voi
  • Góc Schreger nhọn: là ngà voi ma mút
  • Góc Schreger tù: là ngà voi

3. Kiểm tra sản phẩm qua mặt cắt ngang. Nếu mặt cắt:

  • Không có đường Scherger, không có ống nuôi xương, có hình tam giác: là răng Lợn rừng
  • Không có đường Scherger, không có ống nuôi xương, có các đường đồng tâm trên mặt cắt ngang, có hình vòng cung hoặc tam giác: là răng Hà mã
Phân biệt ngà voi với các sản phẩm nhân tạo

Sản phẩm thay thế nhân tạo thường được làm từ hợp chất hữu cơ và các chất vô cơ (như polyester), hợp chất của chất ca-zê-in và nhựa cây hoặc hợp chất của bột ngà và nhựa cây. Sử dụng đèn tia cực tím bước sóng dài là kỹ thuật nhận dạng tốt nhất nếu mẫu vật là sản phẩm nhân tạo. Dưới ánh sáng tia cực tím, ngà voi sẽ xuất hiện ánh sáng huỳnh quang trắng/xanh trong khi sản phẩm thay thế sẽ hấp thụ nhiều ánh sáng hơn và có màu xanh tối. Nếu quan sát mặt cắt ngang của xương và ngà voi, sẽ thấy ở ngà voi có những đường dạng góc tam giác (đường Schreger).

     
Ngà voi (trái) và nhựa (phải) dưới đền cực tím

Phân biệt ngà voi châu Á và ngà voi ma mút

Ngà voi châu Á có thể phân biệt với ngà voi ma mút bằng kỹ thuật quan sát mặt cắt ngang và đo góc của đường Scherger ngoài chạy dọc theo ngà. Ngà voi ma mút có góc nhọn (nhỏ hơn 90 độ) trong khi đó, góc đo được của ngà voi châu Á là góc tù (lớn hơn 90 độ). Vết màu tím trên ngà voi ma mút có thể sẽ hiện lên dưới ánh đèn tia cực tím, còn ở ngà voi thì không có.

    
Ngà voi ma mút                                                                                                      Ngà voi châu Á

Phân biệt ngà voi với xương

Sử dụng kính lúp có độ phóng 10x để quan sát sát bề mặt mẫu vật. Nếu là xương mài nhẵn sẽ có những chấm/vết xước trên bề mặt gọi là “ống nuôi xương” và có thể dễ bị đổi màu bởi chất hữu cơ. Nếu quan sát mặt cắt ngang của xương và ngà voi, sẽ thấy ở ngà voi có những đường dạng góc tam giác (đường Schreger).



Phân biệt ngà voi với gạc hươu

Gạc hươu thường thô, xốp hơn xương và ít hoặc không có thớ dọc. Kiểm tra mặt cắt ngang thấy nhiều lỗ không đều và có những khoang rỗng nếu mẫu vật được làm từ gạc. Nếu quan sát mặt cắt ngang của xương và ngà voi, sẽ thấy ở ngà voi có những đường dạng góc tam giác (đường Schreger).



Phân biệt ngà voi với răng nanh

Răng nanh của Họ mèo (Felidae) có một hoặc nhiều rãnh chạy xuống theo thân răng mà răng voi không có. Răng nanh gấu có những vòng tròn màu nâu mịn xung quanh đầu nhọn mà ngà voi cũng không có. Tương tự, răng nanh của họ mèo lại thiếu những đường dạng góc tam giác (đường Schreger) có xuất hiện trên bề mặt cắt ngang của ngà voi.

     
Răng nanh hổ                                                                                         Răng nanh gấu                   

Phân biệt ngà voi với răng nanh lợn rừng và Hà mã

Răng lợn rừng có độ cong lớn, mặt cắt ngang có hình tam giác, và lớp men bóng chỉ có ở 2 trong 3 mặt răng. Răng nanh của loài hà mã có dải men răng rộng bao phủ 2/3 bề mặt răng, mặt cắt ngang có hình vòng cung. Răng nanh dưới là răng lớn nhất, có mặt cắt ngang hình tam giác và dải men răng bao phủ 2/3 bề mặt.

Nếu các sản phẩm thay thế có màu giống với ngà voi khi đặt dưới ánh sáng tia cực tím (màu ánh sáng hùynh quang trắng/xanh), không có ống nuôi xương hay đường Scherger, lớn hơn răng gấu hoặc mèo thì rất nhiều khả năng sản phẩm này làm từ răng nanh lợn rừng hoặc răng nanh hà mã.

       
Răng nanh lợn rừng                                                                               Răng nanh hà mã
Next Prev