Tìm theo sản phẩm loài
Nếu gặp khó khăn trong quá trình thao tác, xin xem Video hướng dẫn hoặc liên hệ với chúng tôi :
Hotline: +8424.35149750     
Địa chỉ: Phòng 106, nhà D, số 3 Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
Da
Da động vật là một trong những thương phẩm phổ biến nhất trong hoạt động buôn bán ĐVHD. Chúng được sử dụng làm đồ trang trí, trang sức và trong y học dân tộc. Da thường bị kéo dãn, do đó khó có thể dựa vào kích cỡ của tấm da để nhận dạng loài, nhưng màu sắc và kiểu hoa văn là đặc điểm quan trọng để phân biệt. Da của các loài động vật có vú quý hiếm thường bị làm giả bằng da của các loài vật nuôi hoặc các loài vật không quý hiếm. Việc buôn bán da các loài mèo hoang, rái cá và gấu hoàn toàn bị nghiêm cấm tại Việt Nam, còn da của các loài trăn, cá sấu, dúi và kỳ đà thì chỉ bị hạn chế buôn bán.

Phân biệt da giả

Việc nhận biết da chế tác hoặc da của các loài vật thông thường (ví dụ như da chó) giả làm da của các loài quý hiếm cần phải có thực hành và kiến thức về da thật. Tuy vậy khi để ý chi tiết về màu sắc và hoa văn của mỗi loài, ta thấy các bộ da giả (chế tác hoặc giả mạo) thường có các hoa văn lặp đi lặp lại, không đa dạng và tự nhiên như ở da thật. Da giả có thể bị nhuộm màu và dùng khuôn tô để làm giả họa tiết, nên có thể kiểm tra bằng cách quan sát thật cẩn thận bộ lông và xem liệu có bị dính vào tay khi cọ sát không.


Hổ (Phanthera tigris)

Bộ da màu vàng cam và có sọc vằn đen



Báo hoa mai (Phanthera pardus)

  • Bộ da màu vàng nhạt có những vòng hoa thị màu đen nhưng ở giữa màu nâu.
  • Màu trắng dưới bụng và phía sau chân, ở đó các vòng hoa thị trông giống các chấm màu đen hơn.
  • Cuối đuôi có màu đen.



Báo gấm (Nelofelis nebulosa)

  • Bộ da có màu nâu sáng nhạt tới màu vàng cam, với những mảng tối lớn không đều, giống những đám mây (những vệt tối màu bị bao bởi viền đen)
  • Dưới bụng và sau chân với màu trắng đục hoặc hung hung
  • Chấm ở chân và đầu nhỏ hơn
  • Má và cổ có những vằn đen
  • Đuôi có các vòng màu đen.

    
         
Mèo gấm (Pardofelis marmorata)

  • Màu bộ lông khá giống với báo gấm, nhưng có các vệt màu không rõ rệt mà bị pha vào nhau trông giống vân cẩm thạch.
  • Các chấm đen trên chân nhỏ hơn nhưng lại nhiều hơn báo gấm
  • Đuôi rậm lông và rất dài, phần dưới màu xám hoặc hơi trắng với những chấm đen rõ rệt.
  • Đầu có một vệt đen chạy từ mép trên của mắt, hai vệt đen trên má và nhiều chấm ở trán.
    

Báo lửa (Paradofelis temminckii)

  • Bộ lông một màu nhưng có nhiều loại màu khác nhau như màu nâu vàng, xám nhẹ,  một số cá thể có màu nâu đậm hoặc hung đỏ, và có thể có đốm.
  • Các vệt nhỏ hẹp, màu đen và trắng phân biệt trên đầu rất nổi bật, phần bụng trắng và phía sau chân thường có vài đốm.
  • Mặt dưới đuôi màu trắng ở khoảng 1/3 cuối đuôi, phần cuối đuôi có màu đen ở mặt trên


Mèo ri (Felis chaus)

  • Lông có màu xám đến vàng với những vết đen ở chân và đuôi, phía cuối đuôi có các vòng tròn màu đen.
  • Không có vằn hoặc đốm trên phần thân
  • Tai vểnh cao và nhọn, có túm lông màu đen ở đỉnh tai.
  • Mèo ri khá giống với Báo lửa nhưng nó không có vòng ở đuôi mà có sọc trên trán và má.


Mèo rừng (Prionailurus bengaiensis)

  • Bộ lông màu vàng cam tới màu vàng với các đốm đen lớn nhỏ (hoặc đốm đen nhạt có viền màu đen) thường tạo thành các đường trên lưng trên đỉnh đầu và gáy.
  • Phần dưới có màu trắng và các đốm đen
  • Có hai sọc đen trên má và sọc trắng ở giữa. Hai sọc trắng và bốn sọc đen chạy lên góc trong của hai mắt.


      
    

Mèo cá (Prionailurus viverrinus)

Lông có màu nâu xám với các sọc đen trên đỉnh đầu và các hàng đốm nhỏ màu đen trên lưng và 2 bên.
Phần dưới có màu nhạt nhưng không bao giờ có màu trắng – đây là đặc điểm để phân biệt giữa mèo cá và mèo rừng.
Đuôi rất ngắn so với các loài Mèo khác.

    
CÁ SẤU

Việt Nam có hai loài cá sấu tự nhiên: cá sấu hoa cà (Crocodylus porosus ) và cá sấu xiêm (C. siamensis). Cá thể lai giữa hai loài này và lai với cá sấu cuba (C. rhombifer) cũng được gây nuôi và bị buôn bán phổ biến ở Việt Nam. Ba loài này và các cá thể lai tạo bị nghiêm cấm buôn bán trên phạm vi quốc tế theo công ước CITES phụ lục I. Tại Việt Nam, cá sấu hoa cà và cá sấu Xiêm thì hạn chế buôn bán trong nước. Do đó, muốn buôn bán cá sấu, da, hay bộ phận của chúng cần phải có giấy phép hợp lệ và giấy tờ ghi rõ nguồn gốc xuất xứ.



Việc nhận dạng da chính xác ở cấp độ loài là rất khó nhưng không là cần thiết nếu các mẫu vật này không có giấy phép buôn bán đi kèm. Mẫu vật nguyên con sẽ dễ nhận dạng hơn trừ khi đó là cá thể lai tạo vì việc nhận dạng chính xác chúng cần sử dụng kỹ thuật phân tích gen.



Cá sấu hoa cà (Crocodylus porosus)
•    Có hai gờ trên mõm (không bướu)
•    Không có vẩy chẩm (cục thịt ở trên cổ/gốc đầu) hoặc chỉ có 1 – 4 vẩy nhỏ
•    16 – 19 hàng vẩy chạy dọc trên bụng (chạy từ cổ tới lỗ huyệt)
•    19 – 21 vòng xoắn đơn ở đuôi (các gờ vảy nhọn chạy từ cuối đuôi tới thân)
•    Không có các thể vùi dưới đuôi và vẩy bụng



Cá sấu xiêm (Crocodylus siamensis)
•    Có bướu trên mũi
•    Có 4 hàng chẩm (cục thịt trên cổ/cuối phần đầu)
•    Có một gờ giữa hai mắt, đôi khi không nổi rõ
•    14 – 16 hàng vẩy dọc trên bụng (từ cổ tới lỗ huyệt)
•    17 – 19 vòng xoắn đơn ở đuôi (các gờ vảy nhọn chạy từ cuối đuôi tới thân)
•    Có các thể vùi dưới đuôi và vẩy bụng



Cá sấu cuba (Crocodylus rhombifer)
•    Có gờ trắng ở mí mắt
•    Có hai hàng với 2 – 4 vẩy gáy (những vảy lớn ở cổ)
•    17 vòng xoắn đơn ở đuôi (các gờ vảy nhọn chạy từ cuối đuôi tới thân)
•    Không có thể vùi dưới đuôi và vẩy bụng
•    14 – 16 hàng vẩy dọc trên bụng (từ cổ tới lỗ huyệt)
•    Không có bướu trên mũi
•    Vẩy có đầu màu vàng và đen
•    Có bướu sau mắt



Nhận dạng loài lai
Loài lai rất khó để nhận biết một cách chính xác nếu không dùng phương pháp phân tích gen vì chúng có nguồn gen lẫn lộn. Ví du: các gờ gặp nhau ở giữa mũi, mũi rộng vừa phải, và thường có 4 vẩy cỡ trung bình ở phần cuối đầu

Nhận dạng da cá sấu giả
•    Các nếp gấp không tự nhiên trên da
•    Các hoa văn vẩy bị lặp đi lặp lại, không đa dạng
•    Các vết lồi lõm trên bề mặt da được đúc bằng khuân 
•    Các vùng cơ thể khác nhau lại ráp nối với nhau
•    Đốt một chút vật phẩm, nếu bị chảy thì nó được làm bằng nhựa, nếu có mùi giống mùi tóc cháy thì là da cá sấu thật.

TRĂN

Để phân biệt da giả của các loài rắn và thằn lằn, chỉ cần sử dụng một đồng xu trà xát ngược hướng vẩy, nếu là là da thật thì vẩy sẽ bị bong ra, nếu là da giả (ví dụ làm bằng nhựa) thì vẩy sẽ không bong.

Trăn đất (Python molurus)
•    Có vệt màu hơi vàng hình chữ V trên đỉnh đầu
•    Cơ thể màu xám với các đường màu vàng sáng tạo thành hình thoi
•    Có chuỗi các đốm hình tứ giác viền đen trên lưng
•    Hai vẩy lõm ở góc miệng



Trăn gấm (Python reticulatus)
•    Vệt đen mảnh ở giữa đầu
•    Cơ thể màu nâu hoặc vàng sáng nhạt
•    Có 4 vẩy lõm ở góc miệng
•    Cơ thể và đuôi màu xám đen có hoa văn dạng lưới



Việt Nam có 4 loài rái cá. Việc nhận dạng ở cấp độ loài dựa vào bộ da của chúng sẽ không cho kết quả đáng tin cậy nếu không dùng phương pháp phân tích gen. Trong công tác thực thi pháp luật, chỉ cần nhận dạng được con vật là rái cá là đủ vì cả 4 loài rái cá đều được luật pháp bảo vệ khỏi buôn bán thương mại.

Cá thể trưởng thành có độ dài đầu – thân từ 36cm đến 80cm
Đuôi dài (kiểm tra cẩn thận đảm bảo đuôi của chúng không bị gẫy mất một phần nào)
Màu da nâu sậm và có chút ít màu kem ở thân dưới, mức độ màu khác nhau giữa các loài.
Chân ngắn và có màng bơi

     

Các loài có đặc điểm tương tự:

  • Cầy lỏn tranh: nhỏ hơn hầu hết các loài rái cá (độ dài đầu – thân: 32 – 42 cm), mõm rất nhỏ, chân và bàn chân thon nhỏ và không có màng bơi. Màu da nâu sáng, từng sợi lông đều có kẻ sọc nên trông bộ lông như có vằn.



  • Triết bụng vàng: Hình dáng khá giống với rái cá, nhưng nhỏ hơn nhiều (độ dài đầu –thân: 20-29cm), đuôi ngắn hơn chiều dài đầu thân. Phần thân dưới có màu vàng giống rái cá nhưng không có màu kem. Chú ý không nhầm lẫn với sự thay màu lông trong quá trình thay da.



  • Triết chỉ lưng: tương đối giống rái cá nhưng nhỏ hơn nhiều và có sọc trắng ở giữa lưng.


Next Prev